Ông
Murray Hiebert, Phó giám đốc Chương trình Nghiên cứu Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS), Mỹ, cùng Giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên nghiên cứu về quan hệ Việt - Mỹ tại Đại học Maine, trao đổi với VnExpress về những tiến triển đặc biệt trong hợp tác Việt - Mỹ nhân dịp hai nước kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
- Ông đánh giá chung về hợp tác Việt - Mỹ như thế nào?
- Ông Hiebert: Tôi bắt đầu quan tâm đến quan hệ Việt Nam và Mỹ từ năm 1990. Khi bạn theo dõi trong một quãng thời gian dài như vậy, bạn sẽ thấy rất ngạc nhiên về mức độ tiến xa trong hợp tác của hai nước. Dường như mỗi ngày có một bước tiến nhỏ nhưng đó thực sự là một chặng đường dài. Hiện Việt - Mỹ có đối thoại ở cấp chính phủ về nhiều vấn đề gai góc, gồm cả nhân quyền, hợp tác nhiều hơn về quân sự, an ninh và chia sẻ mối quan tâm chung ở Biển Đông. Hai bên cũng trao đổi nhiều chuyến thăm cấp cao, nhờ đó thảo luận sâu sắc. Với tôi, theo dõi tiến trình này rất thú vị.
Hai nước từng có quá khứ cay đắng, ở Mỹ có hội chứng Việt Nam và ngược lại ở Việt Nam có hội chứng Mỹ. Tôi cho rằng thế hệ trẻ của cả hai nước đều muốn trở thành bạn của nhau và về cơ bản đặt quá khứ lại phía sau. Tôi mới biết một con số điều tra rất thú vị từ Viện Khoa học xã hội Việt Nam là gần 90% người Việt được hỏi có cái nhìn lạc quan về Mỹ. Con số rất đáng chú ý.
- Ông Long: Tôi cho rằng quan hệ Việt - Mỹ trong các năm gần đây càng ngày càng được cải thiện và phát triển trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục và thương mại.
- Nói riêng về hợp tác an ninh - quốc phòng, nhận xét của ông là gì?
- Ông Hiebert: Nếu như những năm 1990 Việt - Mỹ chủ yếu hợp tác về tìm kiếm binh lính mất tích trong chiến tranh (MIA) thì hiện nay dần dần có các chuyến thăm Việt Nam của tàu hải quân Mỹ, diễn tập chung về tìm kiếm và cứu hộ trên biển. Thậm chí trong chuyến thăm Việt Nam đầu tháng 6 vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter còn tới thăm một tàu tuần duyên của Việt Nam ở Hải Phòng, điều khó xảy ra hồi năm 1995.
Mỹ cũng hỗ trợ Việt Nam đào tạo quân đội, lực lượng gìn giữ hòa bình. Việt - Mỹ chia sẻ nhiều về những diễn biến đang xảy ra ở Biển Đông. Mỹ cung cấp tàu tuần tra cho Việt Nam, cùng với các nước khác như Nhật Bản.
Thành thực mà nói, tôi cho rằng Mỹ đang rất sẵn sàng tiến xa hơn và nhanh hơn với Việt Nam trong hợp tác an ninh và quốc phòng.
- Ông Long: Từ năm 2002 đến năm 2003, hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng đã bắt đầu với những cuộc gặp gỡ để trao đổi. Năm 2003 Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phạm Văn Trà đã sang Mỹ để bàn việc hợp tác an ninh song phương và trong khu vực Đông Nam Á.
Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 2005 Mỹ mới thấy tầm quan trọng trong việc hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng. Tổng thống George W. Bush đã mời Thủ tướng Phan Văn Khải sang thăm Mỹ. Hai nhà lãnh đạo đã ký một số thoả thuận về hợp tác quốc phòng và an ninh.
- Những điểm nào là đáng chú ý hơn cả trong sự tiến triển về hợp tác an ninh giữa hai nước?
- Ông Hiebert: Hai bên bắt đầu thúc đẩy hợp tác an ninh khoảng năm 2009 - 2010, khi Trung Quốc "hoạt động tích cực" hơn ở Biển Đông. Tại Diễn đàn An ninh khu vực (ARF) tại Hà Nội, cựu Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã có phát biểu mạnh mẽ về các hoạt động của Bắc Kinh Đông.Hợp tác Việt - Mỹ về an ninh hiện nay là rất đáng ngạc nhiên sau những gì xảy ra cách đây 40 năm.
- Ông Long: Trước năm 2010, hợp tác an ninh Việt Nam và Mỹ chủ yếu là tìm hiểu, kết quả quan trọng ban đầu là chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2008. Tháng 10 năm đó, hai bên có cuộc họp song phương đầu tiên về Đối thoại chính trị, an ninh và quốc phòng.
Từ năm 2010 đến nay, hợp tác hai bên càng mật thiết hơn trên nền tảng bảo vệ lợi ích và an ninh chung. Trước sự đe doạ của Trung Quốc đối với an ninh khu vực và sự thách thức đối với Mỹ, chính quyền Tổng thống Mỹ Barack Obama đã công bố chính sách “xoay trục”, còn gọi là tái cân bằng về khu vực châu Á Thái Bình Dương. Năm 2010, Ngoại trưởng Hilary Clinton đã nói thẳng với Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì là an ninh ở khu vực nằm trong lợi ích của Mỹ.
- Theo ông nguyên nhân chính khiến Việt - Mỹ ngày càng tăng cường hợp tác về an ninh là gì?
- Ông Hiebert: Chính các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông khiến Việt Nam và Mỹ quan tâm đến nhau hơn. Nếu Bắc Kinh không có những hành động gây hấn ở Biển Đông thì Việt Nam và Mỹ sẽ bớt ưu tiên hơn trong thúc đẩy hợp tác với nhau. Việt Nam nhận ra rằng họ cần sự trợ giúp, còn Mỹ nhận ra mình cần hỗ trợ các nước như Việt Nam và Philippines.
- Ông Long: Lý do chính mà Việt - Mỹ tăng hợp tác là để bảo vệ quyền lợi của hai nước nói riêng, và sự phát triển của toàn khu vực nói chung. Không có an ninh thì khó có thể phát triển bền vững được. An ninh trên toàn khu vực Biển Đông đang bị Trung Quốc đe doạ với các căn cứ quân sự mà họ đã thành lập ở Hoàng Sa và Trường Sa và những hành động lấn chiếm khác. Trung Quốc cũng nỗ lực tạo ảnh hưởng ở một số nước Đông Nam Á nhằm đẩy dần sự hiện diện của Mỹ ra khỏi khu vực. Do đó, việc củng cố quan hệ Việt - Mỹ rõ ràng là cần thiết.
- Mỹ sẽ thể hiện cam kết của mình đến mức nào, về bảo đảm hòa bình và tự do hàng hải ở Biển Đông trong tương lai gần?